Ý KIẾN CỦA HỘI KẾ TOÁN VÀ KIỂM TOÁN VIỆT NAM (VAA) VỀ DỰ THẢO LUẬT QUẢN LÝ THUẾ

Ngày tạo: 10/08/2018 11:48:22 SA - Số lần đọc: 178
HỘI KẾ TOÁN VÀ KIỂM TOÁN VIỆT NAM          CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
                  Số 135/CV-HKT                                           Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
             V/v: Luật Quản lý Thuế

                                                                                       Hà Nội, ngày 8 tháng 8 năm 2018

                        Kính gửi:         - Ông Đinh Tiến Dũng - Bộ trưởng Bộ Tài chính
                        Đồng kính gửi: - Ông Đỗ Hoàng Anh Tuấn - Thứ trưởng Bộ Tài chính
                                                - Ông Trần Xuân Hà – Thứ trưởng Bộ Tài chính

Về Dự thảo “Luật quản lý Thuế sửa đổi” Hội Kế toán và Kiểm toán Việt Nam (VAA) đã có ý kiến tại các cuộc hội thảo do Tổng cục Thuế, VCCI tổ chức và có văn bản tham gia đầy đủ tất cả các nội dung của dự thảo Luật. Trong văn bản này, lãnh đạo Hội Kế toán và Kiểm toán Việt Nam kính trình và báo cáo Bộ trưởng một lần nữa (đã báo cáo Bộ trưởng tại công văn, ngày 20/11/2017) về các quy định tại Điều 104 (lần trước là Điều 20) của Dự thảo Luật.

Đề nghị bỏ Điểm 3, Điều 104: “Dịch vụ kế toán cho Doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ” vì các lý do sau:

1- Mối quan hệ giữa các Luật trong hệ thống Pháp luật Việt Nam hiện hành: Dịch vụ kế toán là một loại dịch vụ có điều kiện đã được quy định một chương riêng (Chương IV) tại Luật kế toán số 88/2015/QH13. Bởi vậy, nếu quy định như Điểm 3, Điều 104 tại Luật này sẽ xung đột với các quy định tại chương IV của Luật kế toán số 88/2015/QH13 phá vỡ mối quan hệ giữa các Luật và tính thống nhất trong hệ thống pháp luật của Việt Nam;

Kế toán là một nghề nghiệp được pháp luật thừa nhận, dịch vụ kế toán là hoạt động kinh doanh có điều kiện, không chỉ ở Việt Nam mà là thông lệ phổ biến trên thế giới. Hoạt động kế toán được điều chỉnh và chế tài bởi luật pháp và một hệ thống văn bản nghề nghiệp (Chuẩn mực nghề nghiệp), đạo đức nghề nghiệp cho tất cả những người làm nghề và hành nghề kế toán để đảm bảo cung cấp một hệ thống thông tin kinh tế tài chính tin cậy, minh bạch, khách quan cho các nhà quản lý, các nhà đầu tư. Bởi vậy, các văn bản quy phạm pháp luật về thuế chỉ quy định có tính tuân thủ về kế toán chứ không nên quy định về kế toán.

Nếu pháp luật thuế quy định về hành nghề kế toán sẽ thể hiện sự không minh bạch, dễ tạo cơ hội cho lợi ích nhóm trong quy định các văn bản pháp luật, trái với chủ trương xây dựng và vận hành nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

2- Ở Việt Nam, Dịch vụ kế toán là loại hình kinh doanh có điều kiện. Luật Kế toán, số 88/2015/QH13, quy định về cung cấp dịch vụ kế toán khác rất nhiều với quy định của Điều 105 Dự thảo Luật quản lý thuế này, đó là:

- Đối tượng được dự thi để lấy chứng chỉ kế toán viên, đăng ký cung cấp dịch vụ kế toán phải là những người được đào tạo về tài chính kế toán, không bao gồm các Luật sư (Luật kinh tế), các nhà kinh tế chung (học kinh tế) như quy định tại điều 105 của luật quản lý thuế. Để hành nghề kế toán phải là các cử nhân trở lên tốt nghiệp chuyên ngành kế toán, kiểm toán, tài chính hoặc chuyên ngành khác nhưng phải có lượng học trình từ 7% trở lên về kế toán, kiểm toán, thuế, tài chính,… trong chương trình đào tạo.

- Về Kinh nghiệm công tác, phải có từ 36 tháng thực tế làm kế toán, kiểm toán trong khi Luật quản lý thuế chỉ quy định 24 tháng;

- Môn thi và nội dung thi chứng chỉ kế toán viên cũng khác nhiều so với các môn thi lấy chứng chỉ đại lý thuế, đó là phải thi 4 môn, gồm: Luật Kinh tế và Luật Doanh nghiệp, Kế toán, Tài chính và Thuế, trong khi chứng chỉ đại lý thuế chỉ quy định thi 2 môn thậm chí chỉ thi 1 môn (Thuế hoặc kế toán). Nội dung thi chứng chỉ kế toán viên là phải vừa lý thuyết vùa thực hành nâng cao trong khi Đại lý thuế chỉ thi trình độ thực hành (Cao đẳng).

- Sau khi có chứng chỉ kế toán viên trong quá trình hành nghề phải cập nhật 40g/ năm phải kiểm soát chất lượng (Tự các doanh nghiệp và kiểm soát từ bên ngoài với chu kỳ 3 -5 năm/ lần). Trong khi, các đại lý thuế không có sự giám sát kiểm soát thường xuyên, không phải cập nhật bổ sung kiến thức mới hàng năm và người đứng đầu doanh nghiệp dịch vụ đại lý thuế cũng không cần có chứng chỉ, không có sự ràng buộc về vốn, về kinh nghiệm nghề nghiệp như những công ty dịch vụ kế toán.

3- Tác động xã hội: Nếu Luật quản lý thuế vẫn để quy định này thì sẽ dẫn đến một số tác động không tốt cho nền kinh tế và xã hội, như:

- Sẽ tạo nên một tiền lệ xấu “Sai làm mãi thành đúng”, làm méo mó nội dung của hệ thống pháp luật Việt Nam, tạo nên một sự cạnh tranh không lành mạnh trong nền kinh tế và có tác động tiêu cực đến các ngành nghề có liên quan mà cụ thể là Dịch vụ kế toán đã được Bộ Tài chính và gây dựng và phát triển hơn 10 năm nay.

- Hệ thống thông tin kinh tế tài chính do các doanh nghiệp cung cấp sẽ thiếu độ tin cậy, thiếu khách quan, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi những người sử dụng thông tin ra quyết định, như lãnh đạo quản lý, các nhà đầu tư, các cơ quan hoạch định chính sách, thậm chí dẫn đến thất thu thuế của Nhà nước.

- Các quy định của pháp luật không cấm các công ty dịch vụ đại lý thuế cung cấp dịch vụ kế toán khi họ đáp ứng đầy đủ các điều kiện của dịch vụ kế toán quy định tại Luật kế toán, cũng như các công ty dịch vụ kế toán muốn được cung cấp các DV về thuế phải có chứng chỉ Đại lý thuế và phải đăng ký với cơ quan thuế theo quy định của pháp luật.

Kính mong Bộ trưởng quan tâm ý kiến của Hội Kế toán và Kiểm toán Việt Nam. Nếu được, xin phép gặp và trao đổi trực tiếp với Lãnh đạo Bộ để trình bày rõ hơn ý kiến và quan điểm của Hội Kế toán và Kiểm toán Việt Nam.
Xin trân trọng cảm ơn!

Nơi nhận:                                                                    T.M BCH TW HỘI
-Như trên                                                                        CHỦ TỊCH
- Cục quản lý và giám sát KT &KT
- Tổng cục Thuế;
- UBTCNS của QH                                                             (Đã ký)
- Bộ Tư pháp                    
.- Các phó chủ tịch VAA
- Lưu Văn phòng                                                     
     ĐẶNG VĂN THANH