Tạp chí Kế toán và Kiểm toán trích đăng đánh giá và đề xuất, kiến nghị của Hiệp hội Kế toán và kiểm toán Việt Nam (VAA) về tình hình thực hiện Thông tư 183/2013/TT-BTC.
VAA khẳng định tính phù hợp của văn bản này ở bối cảnh ban hành và đề xuất 9 nhóm giải pháp khi áp dụng trong thực tiễn mới. Chi tiết tại văn bản trả lời Công văn số 421/QLKT-KT, ngày 26/3/2024 của Cục Quản lý Giám sát Kế toán, Kiểm toán, về việc đánh giá tình hình thực hiện kiểm toán độc lập đối với đơn vị có lợi ích công chúng.
Đánh giá một số kết quả đạt được
Thông tư số 183/2013/TT-BTC được ban hành trong bối cảnh pháp luật về kiểm toán độc lập đối với đơn vị có lợi ích công chúng còn đang trong giai đoạn xây dựng, hoàn thiện, nên có thể khẳng định đây là văn bản phù hợp và cần thiết tại thời điểm ban hành. Thông tư đã góp phần hình thành khuôn khổ pháp lý tương đối đầy đủ cho hoạt động kiểm toán đối với đơn vị có lợi ích công chúng, bao quát từ phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng, giải thích từ ngữ, phân loại đơn vị có lợi ích công chúng, đến điều kiện, tiêu chuẩn, hồ sơ, thủ tục chấp thuận, nghĩa vụ của tổ chức kiểm toán, kiểm toán viên hành nghề và cơ chế xử lý vi phạm.
Một nội dung quan trọng của Thông tư, xuất phát từ nhu cầu thực tiễn trong bối cảnh ban hành, là đã thiết lập được cơ chế chấp thuận riêng đổi với tổ chức kiểm toán và kiểm toán viên hành nghề thực hiện kiểm toán cho đơn vị có lợi ích công chúng. Việc quy định các điều kiện về số lượng kiểm toán viên hành nghề, thời gian hoạt động kiểm toán tại Việt Nam, số lượng khách hàng đã phát hành báo cáo kiểm toán, hệ thống kiểm soát chất lượng, bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp hoặc quỹ dự phòng rủi ro nghề nghiệp đã góp phần sàng lọc, lựa chọn các tổ chức kiểm toán có năng lực và kinh nghiệm phù hợp đối với lĩnh vực có ảnh hưởng lớn đến lợi ích công chúng.
Thông tư cũng đã thiết lập một quy trình đăng ký, xem xét, chấp thuận và công khai danh sách tổ chức kiểm toán, kiểm toán viên hành nghề được chấp thuận. Quy định này tạo cơ sở cho các đơn vị có lợi ích công chúng lựa chọn tổ chức kiểm toán phù hợp, đồng thời giúp cơ quan quản lý nhà nước có công cụ đề theo dõi, công khai và giám sát hoạt động kiểm toán trong phạm vi quản lý.
Bên cạnh đó, Thông tư đã quy định tương đối đầy đủ trách nhiệm của tổ chức kiểm toán và kiểm toán viên hành nghề trong quá trình thực hiện kiểm toán cho đơn vị có lợi ích công chúng, như trách nhiệm báo cáo, thông báo khi có thay đổi ảnh hưởng đến điều kiện được chấp thuận, trách nhiệm giải trình, cung cấp thông tin, phát hành thư quản lý, xây dựng và vận hành hệ thông kiêm soát chất lượng nội bộ, thực hiện các yêu cầu sau kiểm tra, soát xét chất lượng. Những quy định này có ý nghĩa tích cực trong việc nâng cao ý thức tuân thủ và chất lượng dịch vụ kiêm toán.
Ngoài ra, Thông tư cũng đã quy định các trường hợp không được xem xét chấp thuận, bị đình chỉ hoặc bị hủy bỏ tư cách được chấp thuận, qua đó tạo cơ sở pháp lý cho việc xử lý vi phạm, bảo đảm kỷ luật, kỷ cương trong hoạt động kiêm toán đôi với đơn vị có lợi ích công chung.
Nhìn chung, có thể đánh giá Thông tư số 183/2013/TT-BTC đã hoàn thành tốt vai trò của một văn bản nền tảng trong giai đoạn đầu tổ chức và quản lý hoạt động kiểm toán độc lập đối với đơn vị có lợi ích công chúng.

Một số bất cập, hạn chế trong thời điểm hiện nay
Bên cạnh những kết quả đạt được trong suốt thời gian thực hiện, tại thời điểm hiện nay, theo VAA, Thông tư số 183/2013/TT-BTC đã bộc lộ một số bất cập, hạn chế, như sau:
Đến nay, một số quy định của Thông tư không còn đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành. Lý do là Thông tư được xây dựng trên cơ sở pháp luật của giai đoạn trước, nên đến nay một số khái niệm, căn cứ pháp lý và cách xác định đối tượng áp dụng không còn thật sự phù hợp, dẫn đến việc khi áp dụng phải đối chiếu thêm nhiều văn bản khác mới xác định đầy đủ nội dung quy định hiện hành.
Thông tư có phạm vi điều chỉnh khá rộng, đồng thời quy định nhiều nhóm nội dung như điều kiện chấp thuận, hồ sơ, thủ tục, nghĩa vụ báo cáo, công khai thông tin, giám sát, kiểm tra và xử lý vi phạm. Cách thiết kế, xây dựng này phù hợp trong bối cảnh tại thời điểm ban hành, góp phần nhanh chóng hình thành khuôn khổ quản lý tương đối đầy đủ đối với hoạt động kiểm toán độc lập cho đơn vị có lợi ích công chúng. Tuy nhiên, sau một thời gian thực hiện và trong bối cảnh pháp luật có liên quan đã được sửa đổi, bổ sung, cách quy định bao quát nhiều nhóm nội dung trong cùng một văn bản đã bộc lộ hạn chế là làm cho việc rà soát, cập nhật để bảo đảm tính đồng bộ trở nên phức tạp hơn, đồng thời ảnh hưởng đến tính ổn định và thuận lợi trong quá trình áp dụng.
Quy trình đăng ký, xem xét và công khai danh sách được chấp thuận theo kỳ hàng năm là phù hợp trong bối cảnh khi ban hành, tạo điều kiện để cơ quan quản lý tập trung rà soát, xem xét và công khai danh sách tổ chức kiểm toán, kiểm toán viên hành nghề được chấp thuận trước mỗi kỳ thực hiện kiểm toán. Tuy nhiên, sau một thời gian thực hiện, cơ chế này đã bộc lộ một số hạn chế, do tổ chức kiểm toán phải nộp hồ sơ trong khoảng thời gian cố định hằng năm, chờ xem xét và công khai danh sách trước khi thực hiện kiểm toán, dẫn đến phát sinh công việc lặp lại, tăng chi phí tuân thủ và chưa thật sự linh hoạt trong tô chức thực hiện.
Thành phần hồ sơ đăng ký theo quy định hiện hành gồm nhiều loại tài liệu liên quan đến tư cách pháp lý, điều kiện hoạt động, tình hình tài chính, danh sách khách hàng, thông tin về tổ chức, nhân sự, hệ thống kiểm soát chất lượng và bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp hoặc quỹ dự phòng rủi ro nghề nghiệp. Quy định này là phù hợp trong bối cảnh ban hành nhằm phục vụ yêu cầu xem xét, đánh giá điều kiện của tổ chức kiểm toán. Tuy nhiên, qua quá trình thực hiện cho thấy, với cơ chế đăng ký theo kỳ hàng năm, việc chuẩn bị đầy đủ các thành phần hồ sơ nêu trên trong một số trường hợp còn cần nhiều thời gian, công sức; do đó, có thế tiếp tục rà soát theo hướng đơn giản hơn, thuận tiện hơn cho tô chức thực hiện nhưng vẫn bảo đảm yêu cầu quản lý.
Hiện, quy trình tiếp nhận và xử lý hồ sơ trong một số trường hợp còn liên quan đến nhiều cơ quan có thẩm quyền. Đối với trường hợp đăng ký kiểm toán cho đơn vị có lợi ích công chúng thuộc lĩnh vực chứng khoán, tổ chức kiểm toán thực hiện nộp hồ sơ cho cả Bộ Tài chính và Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước theo phạm vi quản lý của từng cơ quan. Cách thức này là phù hợp với yêu cầu phân định đối tượng quản lý tại thời điểm ban hành. Tuy nhiên, qua thực tiễn thực hiện, quy trình này cũng cho thấy cần tiếp tục rà soát đ tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan có liên quan, bảo đảm rõ đầu mối, thuận tiện hơn cho tổ chức thực hiện và nâng cao hiệu quả xử lý hồ sơ.
Một số điều kiện chấp thuận và các ngưỡng kỹ thuật được quy định trong Thông tư là phù hợp với yêu cầu quản lý tại thời điểm ban hành, góp phân sàng lọc và lựa chọn tổ chức kiểm toán, kiểm toán viên hành nghề đáp ứng điều kiện thực hiện kiêm toán cho đơn vị có lợi ích công chúng. Tuy nhiên, sau một thời gian thực hiện, các quy định này cũng đã bộc lộ một số điểm cần tiếp tục thường xuyên ra soát, hoàn thiện để phù hợp hơn với yêu cầu quản lý trong giai đoạn hiện nay, nhất là đối với việc duy trì điều kiện, bảo đảm chất lượng dịch vụ, tính độc lập nghề nghiệp và tăng cường giám sát trong quá trình thực hiện.
Ngoài ra, quy định về các trường hợp không được xem xét chấp thuận cần tiếp tục được rà soát, hoàn thiện để bảo đảm rõ ràng và thống nhất hơn trong việc áp dụng.
Trong bối cảnh hiện nay, pháp luật đã có quy định riêng về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kiểm toán độc lập, vì vậy cần phân định rõ hơn giữa hành vi vi phạm bị xử lý theo cơ chế xử phạt vi phạm hành chính với các trường hợp cần xem xét áp dụng hậu quả pháp lý liên quan đến việc chấp thuận (hoạt động quản lý).
Việc rà soát theo hướng này sẽ góp phần bảo đảm tính minh bạch, phù hợp với tính chất, mức độ vi phạm, đồng thời tạo thuận lợi hơn trong quá trình tổ chức thực hiện.
Về quy định về hậu quả pháp lý đối với trường hợp không được chấp thuận, bị đình chỉ hoặc bị hủy bỏ tư cách được chấp thuận cân tiếp tục được rà soát, hoàn thiện để bảo đảm thống nhất với cơ chê xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kiểm toán độc lập. Trong bối cảnh pháp luật hiện hành đã có quy định riêng về xử phạt và các hình thức xử phạt bổ sung liên quan đến hành nghề kiểm toán và điều kiện kinh doanh dịch vụ kiểm toán, việc xử lý theo cơ chế chấp thuận cân được quy định rõ hơn, đặc biệt đồi với các hợp đông đã ký và đang thực hiện dở dang. Việc làm rõ nội dung này sẽ góp phần bảo đảm tính thông nhất trong áp dụng pháp luật. Đồng thời hạn chế khó khăn trong thực tiễn, nhất là đối với trường hợp đơn vị có lợi ích công chúng đang ở gần thời điểm lập và công bố báo cáo tài chính.
Chế độ công khai thông tin, báo cáo minh bạch và giám sát chất lượng đã được thiết lập từ sớm, góp phần hỗ trợ công tác quản lý nhà nước và nâng cao tính minh bạch trong hoạt động kiểm toán đối với đơn vị có lợi ích công chúng. Tuy nhiên, qua thời gian thực hiện, nội dung này có thể cần được tiếp tục được rà soát, hoàn thiện theo hướng thuận tiện hơn cho việc cập nhật, tra cứu thông tin và phục vụ công tác quản lý trong điều kiện hiện nay.
Tổng kế lại, VAA cho rằng, Thông tư số 183/2013/TT-BTC là văn bản rất phù hợp trong bối cảnh khi ban hành, nhưng đến nay đã bộc lộ những hạn chế nhất định vê tính đồng bộ, tính ổn định và mức độ thuận lợi trong tổ chức thực hiện.
Một số đề xuất sửa đổi, bổ sung
Từ thực tiễn triển khai Thông tư số 183/2013/TT-BTC, cần nghiên cứu sửa đổi, bổ sung theo hướng đồng bộ hơn với pháp luật hiện hành, rõ ràng hơn trong cách quy định và thuận lợi hơn trong tổ chức thực hiện.
Thứ nhất, cần rà soát, sửa đổi các quy định của Thông tư để bảo đảm thống nhất với Luật, Nghị định và các văn bản pháp luật hiện hành có liên quan. Đối với các nội dung như phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng và việc xác định đơn vị có lợi ích công chúng, Thông tư cần thể hiện theo hướng bám sát, dẫn chiếu phù hợp với quy định của pháp luật cấp trên, tránh trùng lặp hoặc quy định lại.
Thứ 2, cần tiếp tục rà soát, sắp xếp lại nội dung quy định trong Thông tư theo hướng mạch lạc, ro ràng hơn, bảo đảm thuận lợi trong quá trình áp dụng và sửa đổi, bổ sung khi cần thiết. Đối với các nhóm nội dung như tiêu chuẩn, điều kiện, thủ tục chấp thuận; chế độ báo cáo, công khai thông tin; biểu mẫu và hướng dẫn thực hiện, có thể được rà soát để thể hiện theo hướng hợp lý, dễ theo dõi và thống nhất hơn trong cùng văn bản.
Thứ 3, nên nghiên cứu sửa đổi quy trình đăng ký, xem xét chấp thuận theo kỳ hằng năm theo hướng giảm bớt các thủ tục lặp lại. Có thể xem xét chuyển từ cơ chế đăng ký, xét duyệt theo từng năm sang cơ chế đăng ký, chấp thuận ban đầu (1 lần) và duy trì hiệu lực trên cơ sở tô chức kiêm toán, kiêm toán viên hành nghề tiếp tục đáp ứng đây đủ các điêu kiện theo quy định. Trên cơ sở đó, cơ quan có thâm quyên thực hiện việc theo dõi, cập nhật, bố sung hoặc loại khỏi danh sách được chấp thuận đôi với các trường hợp có thay đôi, không còn đáp ứng điêu kiện hoặc phát sinh vi phạm; đồng thời kết hợp với chế độ báo cáo định kỳ, báo cáo khi có biến động và tăng cường hậu kiểm, giám sát trong quá trình thực hiện.
Thứ nữa là tiếp tục rà soát, đơn giản hóa thành phần hồ sơ đăng ký theo hướng phù hợp hơn với yêu cầu quản lý và thuận tiện cho tổ chức thực hiện. Theo đó, chỉ nên yêu cầu cung cấp những tài liệu thật sự cần thiết cho việc xem xét, đánh giá điều kiện; đối với các thông tin, tài liệu cơ quan có thâm quyên đã có hoặc có thê kha thác từ cơ sở dữ liệu quản lý nhà nước thì nên hạn chê yêu câu nộp lại. Đông thời cần đẩy mạnh áp dụng, phương thức điện tử trong việc tiếp nhận, xử lý hồ sơ và công khai thông tin nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và tạo thuận lợi cho các đối tượng thực hiện.
Đề xuất thứ 5 là cần tiếp tục hoàn thiện cơ chê phôi hợp giữa các cơ quan có thâm quyền theo hướng rõ đầu mối, rõ trách nhiệm và thông nhất hơn trong tô chức thực hiện. Đôi với những trường hợp liên quan đến phạm vi quản lý của nhiều cơ quan, cần tăng cường cơ chế phối hợp, chia sẻ thông tin và xử lý liên thông phù hợp, qua do hạn chế việc doanh nghiệp kiểm toán phải cung cấp lặp lại các thông tin, tài liệu có nội dung tương tự, đồng thời nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước.
Thứ 6, tiếp tục rà soát, hoàn thiện các điều kiện chấp thuận và các ngưỡng kỹ thuật theo hướng phù hợp hơn với yêu câu quản lý trong giai đoạn hiện nay. Việc sửa đổi nhằm bảo đảm vừa lựa chọn được tổ chức kiểm toán có đủ năng lực, kinh nghiệm, vừa tăng cường yêu cầu về chất lượng dịch vụ, hệ thống kiểm soát chất lượng, tính độc lập nghề nghiệp và việc duy trì điều kiện trong suốt qua trình thực hiện kiểm toán cho đơn vị có lợi ích công chúng.
Đề xuất 7 là nên tiếp tục rà soát, hoàn thiện quy định về các trường hợp không được xem xét chấp thuận theo hướng rõ ràng hơn, phù hợp hơn với tính chất và mức độ vi phạm. Đối với các vi phạm nghiêm trọng liên quan trực tiếp đến chất lượng kiên toán, tính độc lập nghề nghiệp, hành vi gian lận trong hô sơ hoặc việc không khắc phục sai phạm theo yêu câu, cân tiếp tục nghiên cứu để có biện pháp xử lý chặt chẽ. Đối với các vi phạm liên quan đến thủ tục, chế độ báo cáo hoặc cung cấp thông tin, nên được xem xét, xử lý theo hướng phù hợp hơn, bảo đảm tính thông nhất và thuận lợi trong quá trình áp dụng
Thứ 8, nghiên cứu bổ sung quy định rõ hơn về xử lý trong giai đoạn chuyển tiếp đối với các hợp đồng kiểm toán đã ký khi tổ chức kiểm toán hoặc kiểm toán viên hành nghề không còn đáp ứng điều kiện, bị đình chỉ hoặc bị hủy bỏ tư cách được chấp thuận. Với việc hoàn thiện nội dung này, cân làm rõ hơn trách nhiệm của các bên có liên quan, thời điểm áp dụng, việc tiếp tục hoặc thay thế đơn vị kiềm toán trong trường hợp cần thiết, qua đó hạn chế ảnh hưởng đến tiến độ kiểm toán và công bố báo cáo tài chính của đơn vị có lợi ích công chúng.
Thứ 9, tiếp tục rà soát, hoàn thiện chế độ công khai thông tin, báo cáo minh bạch và giám sát chất lượng theo hướng kịp thời, rõ ràng, thuận tiện cho việc tra cứu và phù hợp với yêu câu quản lý trong giai đoạn hiện nay. Đồng thời, cần gắn việc công khai thông tin với tình trạng hiệu lực của tư cách được chấp thuận, các trường hợp đình chỉ, hủy bỏ và những thay đổi quan trọng có liên quan trong quá trình thực hiện.
Các ý kiến nêu trên đã được tổng hợp từ ý kiến của hội viên trên cơ sở thực tiễn hành nghề. VAA tin tưởng rằng, văn bản mới ban hành sẽ được nghiên cứu những ý kiến đề xuất trong quá trình hoàn thiện, từ đó giải quyết những vướng mắc tồn đọng, phù hợp với khung khổ pháp lý và bối cảnh thực tiễn trong lĩnh vực kiểm toán độc lập đối với đơn vị có lợi ích công chúng.
