Nghiên cứu trao đổi

Sử dụng sản phẩm tài chính phái sinh để phòng ngừa rủi ro tỷ giá

Tiêu đề Sử dụng sản phẩm tài chính phái sinh để phòng ngừa rủi ro tỷ giá Ngày đăng 2015-09-29
Tác giả Admin Lượt xem 1223

Rủi ro tỷ giá là sự thay đổi tỷ giá ngoại tệ mà doanh nghiệp (DN) không
thể dự báo trước làm ảnh hưởng đến giá trị kỳ vọng trong tương lai. Trong
trường hợp các giao dịch của DN thực hiện trên cơ sở tỷ giá ngoại tệ mà hàng
hóa đã được định giá trước, khi tỷ giá có sự biến động có thể tạo ra rủi ro dẫn
đến thua lỗ. Tùy theo quy mô sử dụng ngoại tệ, DN có thể chịu số lỗ do rủi ro
về tỷ giá nhiều hay ít.

Rủi ro tỷ giá (RRTG) có thể phát
sinh trong nhiều hoạt động khác nhau của DN. Nhưng nhìn chung cứ bất cứ hoạt
động nào mà dòng tiền vào phát sinh bằng một đồng tiền khác trong khi dòng tiền
ra phát sinh bằng một đồng tiền khác và ngược lại đều chứa đựng nguy cơ RRTG,
thể hiện ở chỗ tỷ giá thay đổi làm dòng tiền thay đổi theo.

RRTG là vấn đề khá phức tạp và có
thể phát sinh trong nhiều loại hoạt động:

– RRTG trong hoạt động xuất nhập
khẩu (XNK). Đây là loại rủi ro đáng lo ngại nhất đối với các DN có hoạt động
XNK nhiều. Sự thay đổi tỷ giá làm cho giá trị kỳ vọng của các khoản phải thu
hoặc phải trả bằng ngoại tệ trong tương lai bị thay đổi, từ đó ảnh hưởng đến
kết quả hoạt động kinh doanh của DN.

– RRTG trong hoạt động tín dụng:
xảy ra khi các DN thực hiện vay vốn bằng ngoại tệ.

– RRTG trong hoạt động đầu tư:
phát sinh đối với các DN có các hoạt động đầu tư trực tiếp hoặc gián tiếp ra
nước ngoài.

RRTG có tác động rất lớn đến DN ở
những khía cạnh sau:

Một là, RRTG gây ra bất ổn cho DN, tác động đến hoạch định tài chính
của DN
. Cụ thể, khi DN đánh giá dự án đầu tư, RRTG tác động đến dòng tiền
của dự án, từ đó làm ảnh hưởng đến NPV và ảnh hưởng đến việc hoạch định đầu tư
vốn của DN. RRTG có thể làm cho dự án đầu tư dừng lại do tổng mức đầu tư tăng
đột biến.

Hai là, RRTG tác động đến lợi nhuận sau thuế của DN. Biến động tỷ
giá gây ra ba loại tổn thất:

(i) Tổn thất giao dịch: là tổn
thất phát sinh khi có các khoản phải thu hoặc phải trả bằng ngoại tệ. Tổn thất
các khoản phải thu ngoại tệ là tổn thất phát sinh khi giá trị quy ra nội tệ thu
về sụt giảm do ngoại tệ xuống giá so với nội tệ. Tổn thất các khoản phải trả
ngoại tệ là tổn thất phát sinh khi giá trị quy ra nội tệ chi ra tăng lên do
ngoại tệ lên giá so với nội tệ. Tổn thất giao dịch ngoại tệ lớn hay nhỏ tùy
thuộc vào giá trị tài sản tính bằng ngoại tệ và mức độ thay đổi của tỷ giá.

(ii) Tổn thất kinh tế: là tổn
thất phát sinh do thay đổi của tỷ giá làm ảnh hưởng đến dòng tiền quy ra nội tệ
hoặc ngoại tệ của DN. Chẳng hạn sự lên giá của nội tệ làm sụt giảm doanh thu
xuất khẩu (XK) của DN, do hàng XK bây giờ trở nên đắt hơn so với người tiêu
dùng nước ngoài. Hoặc chi phí đầu vào của DN gia tăng do ngoại tệ lên giá so
với nội tệ khi đại đa số nguyên vật liệu đầu vào phục vụ sản xuất từ nguồn nhập
khẩu. Tổn thất kinh tế liên quan đến vị thế cạnh tranh tương đối của DN.

(iii) Tổn thất trước giao dịch (Pre-transactional
risk): là rủi ro từ việc cam kết thanh toán hoặc bỏ thầu dự án tại một mức giá
trước khi thực hiện giao dịch và thanh toán bằng đồng ngoại tệ. Ví dụ, một DN ở
Việt Nam XK hàng hóa vào thị trường Mỹ phải công bố bảng giá tính bằng đồng tại
Việt Nam. Nếu việc điều chỉnh bảng giá không thể theo kịp với sự biến động bất
thường của tỷ giá hối đoái trên thị trường, DN này sẽ bị ảnh hưởng bởi RRTG.
Tương tự, nếu DN ký kết một hợp đồng cung ứng dài hạn, thu nhập bằng ngoại tệ
chắc chắn sẽ bị ảnh hưởng trong khi giá thỏa thuận đã được ấn định. Thiệt hại
do loại rủi ro này gây ra chỉ có thể xác định khi DN thực sự thực hiện giao
dịch. 

(iv) Tổn thất chuyển đổi: là tổn
thất phát sinh do thay đổi tỷ giá khi chuyển đổi tài sản, nợ, lợi nhuận và các
khoản mục khác của báo cáo tài chính từ đơn vị tính ngoại tệ sang đơn vị nội
tệ. Khác với các loại rủi ro trên, rủi ro này không làm ảnh hưởng tới dòng tiền
và chỉ liên quan tới quá trình hạch toán kế toán của DN. Tuy nhiên, với một
công ty cổ phần, nó có thể ảnh hưởng tới niềm tin của nhà đầu tư. Việc chuyển
đổi này sẽ làm thay đổi các chỉ số tài chính, các yếu tố liên quan điều khoản
vay nợ…

Như vậy có thể thấy RRTG gây ra
những tổn thất về giao dịch, tổn thất kinh tế cho DN khi có các khoản phải thu,
các khoản phải trả bằng ngoại tệ trong tương lai. Các khoản phải thu, phải trả
có thể đến từ hoạt động XNK hàng hóa, nguyên vật liệu, hoạt động tín dụng, hoạt
động đầu tư tài chính. Các khoản phải thu sẽ hình thành nên trạng thái thừa
ngoại tệ (long position), các khoản phải trả hình sẽ hình thành nên trạng thái
thiếu ngoại tệ (short position). Để có thể phòng ngừa RRTG tăng giảm gây ra
những thiệt hại cho mình, DN có thể sử dụng các sản phẩm kỳ hạn ngoại tệ, hoán
đổi ngoại tệ, tương lai hoặc quyền chọn.

Sau đây ta đi xem xét việc sử
dụng sản phầm kỳ hạn và tương lai để phòng ngừa RRTG trong trường hợp DN có các
khoản phải trả bằng ngoại tệ trong tương lai thông qua tình huống sau:

Tên công ty: Công ty cổ phần ABC

Trị giá hợp đồng: 1 tr USD    

Thời hạn thanh toán: 6 tháng

Tỷ giá giao ngay (USD/VND) ở thời
điểm hiện tại: 21.190 – 21.240

Trường hợp sử dụng hợp đồng kỳ
hạn ngoại tệ

DN mua hợp đồng kỳ hạn ngoại tệ
tại Ngân hàng kỳ hạn 6 tháng theo tỷ giá bán kỳ hạn. Ngân hàng sẽ sử dụng tỷ
giá giao ngay tại thời điểm hiện tại, lãi suất kỳ hạn 6 tháng của USD và VND và
thời hạn hợp đồng để xác định tỷ giá kỳ hạn. Tỷ giá kỳ hạn được xác định như
sau:

   
 

Trong đó: Sb: 21.240 là tỷ giá
giao bán ngay USD/VND; Lscv(VND): lãi suất cho vay VND = 5,5% (đây là mức lãi
suất áp dụng đối với các DN lớn có tham gia mua kỳ hạn); Lstg (USD): lãi suất
tiền gửi USD = 0,25%; n= 180 ngày là thời hạn của hợp đồng.

ở thời điểm mua hợp đồng kỳ hạn:
chưa có chuyển giao ngoại tệ giữa ngân hàng và DN. Tuy nhiên, với mức tỷ giá
biết trước như thế này, công ty ABC đã cố định khoản chi phí phải thanh toán
cho hợp đồng nhập khẩu là 21.296 tr đồng.

Ở thời điểm đến hạn, công ty ABC
có các giao dịch sau:

– Nhận 1 triệu USD từ hợp đồng
mua kỳ hạn ngoại tệ và thanh toán cho hợp đồng nhập khẩu.

– Trả cho ngân hàng 21.296 tr
đồng.

Khi sử dụng hợp đồng kỳ hạn, công
ty đã cố định được chi phí phải trả của mình bất kể tỷ giá biến động như thế
nào, do đó đã loại trừ được RRTG. Sử dụng hợp đồng kỳ hạn có ưu điểm là tránh
được tổn thất giao dịch cho công ty, đơn giản, dễ sử dụng và dễ thương lượng
với ngân hàng. Tuy nhiên hợp đồng kỳ hạn mang lại nhược điểm cho DN sử dụng là
nó chỉ áp dụng được trong trường hợp hai bên tham gia hợp đồng không có nhu cầu
chuyển giao ngoại tệ ở thời điểm thỏa thuận giao dịch. Khi tỷ giá bán giao ngay
tại thời điểm đáo hạn không lên đến mức bằng hoặc cao hơn tỷ giá kỳ hạn đã thỏa
thuận thì DN có thể bị thiệt hại. 

Từ những ưu nhược điểm như trên,
DN chỉ nên sử dụng hợp đồng kỳ hạn ngoại tệ trong trường hợp: hai bên tham gia
hợp đồng không có nhu cầu chuyển giao ngoại tệ ở thời điểm thỏa thuận giao dịch;
DN sẵn sàng chấp nhận thiệt hại nếu tỷ giá biến động bất lợi cho DN. Số tiền
thiệt hại (nếu có) được coi như là chi phí mua bảo hiểm rủi ro biến động tỷ
giá.

Trường hợp sử dụng hợp đồng tương
lai

Tiếp tục tình huống nghiên cứu
trên, công ty ABC có thể mua hợp đồng tương lai ngoại tệ trên thị trường tương
lai có giá trị và thời hạn tương đương với giá trị và thời hạn thanh toán của
hợp đồng nhập khẩu. Khi đó, công  ty nắm
giữ hai hợp đồng: một là hợp đồng nhập khẩu sẽ đến hạn thanh toán trong 6 tháng
nữa, hai là hợp đồng tương lai trên thị trường tương lai và cũng sẽ đáo hạn
trong 6 tháng nữa. Giao dịch cụ thể của công ty được mô tả như sau:

– Ở thời điểm thỏa thuận hiện tại:
công ty mua 100 hợp đồng ngoại tệ tương lai, trị giá mỗi hợp đồng là 10.000 USD
với thời hạn 6 tháng. Công ty phải mở tài khoản thanh toán với phòng thanh toán
bù trừ của Sở giao dịch và ký quỹ lần đầu theo yêu cầu của Sở giao dịch.

– Ở giữa hai thời điểm thỏa thuận
và đáo hạn: giá tương lai thay đổi hàng ngày, giao dịch ghi nhận và thanh toán
hàng ngày đối với hợp đồng tương lai. Trong thời điểm này, giá USD có thể lên
giá hoặc giảm giá so với VND. Nếu đô lên giá thì công ty sẽ lãi từ hợp đồng
tương lai và ngược lại nếu đô xuống giá thì công ty sẽ bị thiệt.

– Tại thời điểm 6 tháng sau: công
ty sẽ đóng (close out) hợp đồng tương lai bằng cách bán lại một hợp đồng tương
tự trên thị trường tương lai và mua USD trên thị trường ngoại tệ để thanh toán
tiền hàng. Tại thời điểm này có thể xảy ra hai trường hợp:

+ Tỷ giá ở thời điểm này cao hơn
tỷ giá tại thời điểm thỏa thuận, lúc này trên thị trường ngoại tệ công ty sẽ
phải mua với tỷ giá cao hơn và bị thiệt hại một số tiền bằng (S180-S0) x 1
triệu đồng do USD lên giá so với VND. Tuy nhiên, trên thị trường tương lai,
công ty sẽ lãi từ hợp đồng giao sau và được tích lũy hàng ngày vào tài khoản
thanh toán với số tiền bằng: 100 x 10000 (P180 – P0) (trong đó P180: giá tương
lai tại thời điểm 6 tháng sau, P0: giá tương lai tại thời điểm 0, và P180 >
P0). Số tiền lãi tích lũy này sẽ được sử dụng để bù trừ cho việc công ty bị
thiệt trên thị trường ngoại tệ. Nhờ vậy RRTG có thể được kiểm soát.

+ Tỷ giá ở thời điểm này thấp hơn
tỷ giá tại thời điểm thỏa thuận. Ngược lại với trường hợp trên, công ty sẽ được
lợi trên thị trường ngoại tệ do  mua
USD  với tỷ giá thấp hơn và bị lỗ trên
thị trường tương lai do tỷ giá đóng hợp đồng tương lai thấp hơn tỷ giá tương
lai ở thời điểm mua hợp đồng tương lai. Lỗ trên thị trường tương lai được bù
trừ với lợi trên thị trường ngoại tệ và nhờ vậy RRTG vẫn được kiểm soát.

Hợp đồng tương lai mang lại cơ
hội đầu cơ nếu tỷ giá biến động đúng như dự đoán, còn nếu tỷ giá biến động
ngược như dự đoán thì vẫn đảm bảo kiểm soát được RRTG. Tuy nhiên khi sử dụng
hợp đồng tương lai cần chú ý những điểm sau:

* Hợp đồng tương lai được chuẩn
hóa theo loại ngoại tệ, trị giá hợp đồng, thời hạn hợp đồng nên có các trường
hợp DN không thể thỏa thuận hợp đồng theo đúng như nhu cầu cần phòng ngừa rủi
ro của mình. Do đó DN không thể phòng ngừa rủi ro (hedging) toàn bộ được mà
chỉ  kiểm soát được rủi ro.

* Hợp đồng tương lai vẫn là hợp
đồng bắt buộc thực hiện nên các DN vẫn phải thực hiện hợp đồng đến hạn nếu
chưa  kịp đóng hợp đồng tương lai.

Các DN nên lựa chọn hợp đồng
tương lai trong phòng ngừa rủi ro trong trường hợp kỳ vọng tỷ giá biến động
theo như dự đoán và mong muốn kiếm thêm lợi nhuận tích lũy từ biến động tỷ giá,
đồng thời vẫn muốn kiểm soát được tổn thất. Việc sử dụng hợp đồng tương lai phụ
thuộc rất nhiều vào thái độ của DN với rủi ro và kỳ vọng của DN vào biến động
tỷ giá. Nếu công ty nhấn mạnh mục tiêu phòng ngừa rủi ro (hedging) hơn đầu cơ (speculating)
thì không nên sử dụng hợp đồng tương lai mà nên sử dụng hợp đồng kỳ hạn. Vì hợp
đồng tương lai được thiết kế phục vụ cho mục đích đầu cơ cao hơn mục đích phòng
ngừa rủi ro./.

TS. Phạm Thị Thanh Hòa

Học viện Tài chính

Theo Tạp chí Kế toán và Kiểm toán

 

 

Tài liệu tham khảo

1. TS. Bùi Văn Vần, TS Vũ Văn Ninh, Tài
chính DN, NXB Tài chính, 2013

2. TS. Nguyễn Minh Kiều, Tài chính DN
căn bản, lý thuyết bài tập và bài giải, NXB Lao động xã hội, 2012.

3. John C.Hull, Option, futures and
other derivatives, seventh edition, Pearson Prentice Hall.

Tin tức liên quan

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *