Nghiên cứu trao đổi

Ý kiến tham gia sửa đổi, bổ sung Luật Ngân sách Nhà nước 2002

Tiêu đề Ý kiến tham gia sửa đổi, bổ sung Luật Ngân sách Nhà nước 2002 Ngày đăng 2015-07-07
Tác giả Admin Lượt xem 382

Luật Ngân sách Nhà nước (NSNN) năm 2002, được Quốc hội khóa XI thông qua ngày 16/12/2002 và có hiệu lực thi hành từ năm ngân sách (NS) 2004. Đến nay, Luật đã thực hiện được hơn 10 năm và đang trong năm tài khóa thứ 11. Qua hơn 8 năm thực hiện, Luật đã đi vào cuộc sống, đã phát huy mạnh mẽ tiềm năng đất nước, đảm bảo phát triển NSNN nhanh và vững chắc, trên cơ sở tăng quyền chủ động, trách nhiệm của địa phương và các Bộ, ngành trong việc quản lý tài chính – NS được phân cấp; đẩy mạnh cải cách hành chính trong quản lý NS phù hợp với tiến trình cải cách hành chính Nhà nước; xây dựng nền tài chính lành mạnh, công khai, tăng cường kỷ cương, kỷ luật, thực hiện chế độ trách nhiệm của thủ trưởng đơn vị sử dụng NS; chủ động đáp ứng các yêu cầu mới đặt ra trong quá trình tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế trong giai đoạn phát triển tới. Điều thấy rõ nhất là quy mô NS, cứ 5 năm sau lại gấp hai lần số thu 5 năm trước. Bản thân Luật NSNN năm 2002 và thực tế đã cho thấy, Luật bảo đảm các nguyên tắc cơ bản:

– Phù hợp và cụ thể hoá những sửa đổi, bổ sung có liên quan trong Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001), Luật Tổ chức Quốc hội, Luật Tổ chức Chính phủ được Quốc hội khoá X, kỳ họp thứ  10 (tháng 11, 12/2001) thông qua. 

– Quản lý tập trung thống nhất NSNN, bảo đảm quyền quyết định của Quốc hội và sự điều hành thống nhất của Chính phủ đối với NSNN; đảm bảo vai trò chủ đạo của NS trung ương. Đồng thời, tăng cường phân cấp quản lý, tạo thế chủ động gắn với tăng cường trách nhiệm cho chính quyền địa phương.

– Phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi giữa NS trung ương với NS địa phương theo hướng, tăng nguồn thu cho NS địa phương và thúc đẩy địa phương phấn đấu để chủ động cân đối NS. Tăng cường tính chủ động, gắn với trách nhiệm của các Bộ, Ngành, địa phương, đơn vị trong quản lý NS và tài sản Nhà nước; gắn trách nhiệm quản lý, sử dụng NS với trách nhiệm tổ chức thực hiện nhiệm vụ chính trị, chuyên môn của Bộ, Ngành, địa phương, đơn vị.

– Thực hiện cải cách hành chính trong việc lập, thực hiện và quyết toán NS. Thực hiện công khai, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong quản lý NSNN. Kiểm soát chặt chẽ hoạt động thu, chi NSNN qua các quy định về tăng cường trách nhiệm, thanh tra, kiểm tra, kiểm toán gắn với xử lý vi phạm.

Về sự cần thiết và quan điểm định hướng sửa đổi bổ sung

Thực tế 10 năm họat động NS theo Luật NSNN 2002, đã cho thấy không ít vướng mắc và bộc lộ những hạn chế cần phải sửa đổi, bổ sung. Rất đồng ý với đánh giá của Chính phủ trong tờ trình UBTVQH về những hạn chế trong họat động NSNN, trong cơ chế quản lý NSNN,… Theo tờ trình đó là lý do phải sửa đổi, bổ sung Luật NSNN để đáp ứng yêu cầu mới trong quá trình tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, cải cách hành chính, đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế. 
Nhưng chỉ ngần ấy lý do thì chưa đủ, cần phải thấy thêm một số lý do rất bản chất: Đó là cấu trúc thu, chi NS về cơ bản không có những thay đổi đáng kể. Cấu trúc NS, thể hiện qua cơ cấu thu, chi, là tấm gương phản chiếu thực trạng nền kinh tế. Đồng thời, có vai trò thúc đẩy kinh tế – xã hội phát triển.

Cần thấy hết đặc điểm của NSNN Việt Nam để có định hướng và giải pháp sửa đổi, bổ sung cho phù hợp

Trước hết, những quy định về thu, chi NS thiếu rõ ràng. Luật 2002 quy định: NSNN là toàn bộ các khoản thu chi của Nhà nước đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước (Điều 1). Nhưng không khẳng định rõ là số phải thu đã thuộc sở hữu Nhà nước hay số thực thu vào Kho bạc Nhà nước (KBNN); số thực chi, thực sử dụng hay là số thực xuất quỹ khỏi kho bạc. Trên thực tế, thu NSNN lâu nay chỉ thể hiện số thực thu vào NS, số thực thu vào kho bạc, còn rất nhiều khỏan của NSNN vẫn được coi là nợ đọng như số thuế phải nộp đã được cơ quan thuế, cơ quan hải quan xác định, nhưng đơn vị chưa nộp hoặc đã nộp  nhưng chưa vào kho bạc. Về thực chất, kế toán phản ánh số thu chi NSNN vẫn chỉ là kế toán thu chi tiền của NSNN, mà hoàn toàn chưa phải số thực thu và thực chi đúng nghĩa của NS. Đây cũng là lý do giải thích trong cơ cấu thu chi NSNN của Việt Nam có một khoản thu, chi được gọi là chuyển nguồn rất lớn, càng năm sau càng lớn hơn năm trước và năm 2012 đã lên đến gần trăm nghìn tỷ đồng, làm sai lệch bản chất thu, chi NS. Đó là chưa kể tới nhiều tỷ đồng, vốn đầu tư xây dựng cơ bản đã và đang tiếp tục giải ngân và chi tiêu trong năm 2012 (thậm chí đến tận giữa năm 2012) nhưng lại thuộc NS 2011 và sẽ quyết toán vào NS năm 2011. Chắc chắn các số liệu thu, chi NS được hạch toán và quyết toán như vậy, sẽ không cho những tính toán và kết luận tin cậy về kinh tế vĩ mô, về tác động và ảnh hưởng của tài chính quốc gia, nếu không nói đó là những kết luận méo mó.

Hai là, Cấu trúc NS của Việt Nam mang tính đặc thù của nền kinh tế Việt Nam phục vụ mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của Việt Nam, hoàn toàn không giống hoặc mang sắc màu, cấu trúc NS của quốc gia nào khác. Cơ cấu NS của Việt Nam thể hiện rõ, NS Trung ương đóng vai trò chủ đạo, vừa mang tính tập trung vừa mang nặng tính bao cấp. Điều đó sẽ đi liền với tính hiệu quả không cao, dù có tăng cường quản lý và tăng cường quản lý cũng chỉ hạn chế phần nào tính ít hiệu quả của NSNN. Quyết định NSNN và phân bổ NSNN cũng chính là thể hiện quyền lực. Tập trung cao trong quản lý và điều hành NS cũng có nghĩa là tập trung được quyền lực, dễ quản lý, dễ điều hành. Nhưng tập trung quá mức, sẽ hạn chế và gây khó cho phân cấp và phát huy quyền chủ động của các cấp chính quyền. Và tất yếu trong trường hợp này, NSNN còn phải tiếp tục lồng ghép, tiếp tục phức tạp trong điều hành và khó có sự minh bạch thực sự trong cả quy trình NS. Đặc biệt, là trong lập dự tóan, phân bổ NS, chấp hành NSNN, NS địa phương.     

Từ hai đặc điểm cơ bản đó, để khẳng định những quan điểm sửa đổi Luật NSNN. Bên cạnh việc kế thừa, phát huy những mặt tích cực của Luật NSNN hiện hành, cần đổi mới mạnh mẽ phương thức quản lý NSNN theo nguyên tắc kinh tế thị trường, đẩy mạnh cải cách hành chính và từng bước phù hợp thông lệ, chuẩn mực quốc tế.
Nhưng nếu theo dự định, việc sửa đổi, bổ sung Luật NSNN chỉ tập trung vào 9 nhóm vấn đề với hơn 30 nội dung. Trong đó, có 18 nội dung được coi là quan trọng thì thực sự chưa đạt đựợc mục tiêu đề ra và chưa quán triệt được các quan điểm của việc sửa đổi, bổ sung.

Trong các nhóm vấn đề, nếu xem xét kỹ thì chưa có nội dung nào thực sự căn bản làm chuyển biến thực chất công tác điều hành, quản lý NS. Vấn đề lớn nhất, cơ bản nhất là bản chất thu, chi NS và cơ cấu NS cũng như phân cấp NS cần phải được giải quyết căn bản hơn, sâu hơn, cụ thể hơn cho từng cấp NS, từng loại địa phương. 

Đi sâu xem xét 9 nhóm vấn đề với 32 nội dung thì thấy, tập trung chủ yếu vẫn là các điều khoản chế tài, điều chỉnh các quy định về phương thức chia NS, trong đó có:

– Một số vấn đề đã phát hiện có vướng mắc hoặc vì lý do nào đó đã có quyết định xử lý từ lâu, nay cần hợp thức hóa trong Luật như thu xổ số kiến thiết và thu tiền sử dụng đất; mức huy động vốn của NS cấp tỉnh theo Khoản 2, Điều 8; việc NS địa phương hỗ trợ các cơ quan trung ương trên địa bàn,….

– Một số không ít các vấn đề mang tính kỹ thuật trong quản lý điều hành NS, không phải là những vấn đề lớn như thời gian lập dự toán, công khai NS, chế độ giải trình,…
Đề nghị sửa đổi, bổ sung những vấn đề cơ bản sau: 

(1)- Xác định và quy định lại về NSNN và thu, chi NSNN. Cần xác định NSNN là các khoản thu, chi của Nhà nước. Nhưng phải là số thu, chi như thế nào. 

Số thu NSNN phải là số tiền đã thuộc về sở hữu của Nhà nước theo luật định, được quy định ngay từ thời điểm có quyết định của cơ quan thu như xác nhận tờ khai hải quan, phát hành hóa đơn thuế GTGT, chứng từ liên quan thuế Thu nhập doanh nghiệp, Thu  nhập cá nhân, thuế Tiêu thụ đặc biệt, thuế Môn bài, các loại phí, lệ phí chứ không phải tại thời điểm thực thu tiền vào NS hay vào KBNN. Như vậy, sẽ nâng cao trách nhiệm của tổ chức, cá nhân được giao nhiệm vụ thu NS trong việc đôn đốc thu nộp các khỏan thuộc sở hữu của Nhà nước, kể cả các lợi ích kinh tế của Nhà nước ở các tổ chức kinh tế trong và ngoài nước đã xác định.

Số chi NSNN phải là số NSNN thực tế đã xuất ngân quỹ Nhà nước (NQNN), đã sử dụng, có đầy đủ thủ tục, hồ sơ thanh toán, chứ không phải số xuất quỹ Kho bạc. 

Cần làm rõ số thu NS chưa thu được, trách nhiệm pháp lý của những người có nghĩa vụ nộp và những cơ quan được Nhà nước giao nhiệm vụ thu, quản lý nguồn thu. Không thể để tình trạng nợ đọng các khoản thu NSNN hoặc nợ tạm ứng NSNN, hàng chục nghìn tỷ như hiện nay được. Luật pháp quy định không chặt, không rõ ràng sẽ là nguyên nhân của tình trạng chiếm đoạt, chiếm dụng nguồn thu NS và tình trạng không nghiêm trong kỷ cương, kỷ luật chấp hành NS.

Quy định rõ ràng như vậy sẽ hạn chế, đi đến chấm dứt nợ đọng các khỏan thu NS quá nhiều như hiện nay, chấm dứt tình trạng chuyển nguồn từ năm này qua năm khác làm méo mó số liệu thu chi và quyết toán thu chi NSNN (theo đúng nghĩa là năm tài khóa). Tất nhiên, năm đầu tiên áp dụng sẽ rất khó khăn và cho những số liệu không đẹp về NSNN. Nhưng, thà chấp nhận một năm như vậy để có được NSNN nhiều năm sau đúng nghĩa hơn, thực tế hơn. Và cái chính là để Quốc hội và HĐND cơ quan quyền lực của Nhà nước quyết định thực quyền và thực chất hơn về NSNN. 
 
(2) Xác định mức độ tập trung và phân cấp trong quản lý điều hành NS. Nội dung phân cấp cần rõ ràng hơn, sâu hơn. Trao quyền và trách nhiệm cho HĐND tỉnh quyết định NS Địa phương. QH chỉ quyết định NS Trung ương. Cần phân loại các địa phương để xác định mức độ giao quyền và trách nhiệm. Không nên giao quyền và trách nhiệm về NSNN như nhau đối với các địa phương. Cần tính đến đặc thù của các tỉnh, thành phố trực thuộc TW  theo các tiêu chí quy mô, trình độ phát triển và nhiệm vụ chính trị mà địa phương đảm nhiệm để xác định trách nhiệm và giao quyền theo mức độ với từng nhiệm vụ cụ thể. Làm được như vậy, sẽ giảm dần việc lồng ghép trong NS, phát huy cao độ tính chủ động, sáng tạo của các cấp chính quyền và nâng cao trách nhiệm của các tổ chức cá nhân có liên quan đến NS.

(3) Cần có quan điểm mới trong nội dung và cơ cấu thu chi NS. Xác định lại nội dung thu trong quan hệ thu nội địa và thu ngoài nước, thu từ  họat động kinh tế,…. Thay đổi quan niệm về chi đầu tư phát triển và chi hành chính sự nghiệp trong cơ cấu chi NS. Từ đó, sắp xếp và có ý thức trong việc chi cho giáo dục, y tế, chi cho khoa học công nghệ và phát triển nguồn lực.
Chúng tôi cho rằng, cần phải sửa Luật NSNN một cách thật căn bản theo hướng của ba nội dung trên. Cần đầu tư công sức và trí tuệ nhiều hơn, cho lần sửa đổi, bổ sung này. Trên thực tế, Luật NSNN thực hiện mới 8 năm, những nội dung sửa đổi theo tờ trình của Chính phủ không nhiều. Việc điều hành NS có khó khăn nhưng vẫn có thể khắc phục được và thực tế vẫn đang được khắc phục.       

Về những nội dung cụ thể đề nghị sửa đổi, bổ sung

– Về phạm vi NSNN

+ Các khoản thu phí, lệ phí nên nộp 100% vào NSNN. Hoàn toàn không nên để lại và không nên ghi thu, ghi chi. Chi phí cho việc thu và quản lý phí, lệ phí được thanh toán, chi theo tiêu chuẩn, định mức chung, cân đối trong dự toán, có mục riêng. Việc thanh toán và cấp phát khoản kinh phí này không khó khăn gì.

+ Thu về xổ số kiến thiết và tiền sử dụng đất nên tính là số thu NSNN.

– Về huy động vốn của NS cấp tỉnh cần chia ra làm 3 loại NS tỉnh: Tỉnh, thành phố có nguồn thu lớn, điều tiết nhiều về NSTW và có nhu cầu chi đầu tư lớn như Hà Nội, Hải Phòng, thành phố HCM,… Các tỉnh thành phố có thu điều tiết về NSTW khác. Các tỉnh được bổ sung cân đối NS từ NSTW. Thay đổi lại quan niệm tính bội chi và kết dư của NSĐP.

– Về bổ sung cân đối NS và cơ chế điều hoàn nguồn thu
Số bổ sung NS được xem xét tăng lên hàng năm, tùy theo khả năng của NSNN cấp trên nhưng phải đảm bảo nguyên tắc không vi phạm nguyên tắc ổn định tỷ lệ điều tiết đã được QH và HĐND quyết định. Nên giữ quy định: Phải giảm dần, số bổ sung từ NS cấp trên hoặc tăng dần tỷ lệ điều tiết về NSNN cấp trên sau mỗi thời kỳ ổn định NS.

Giữ cơ chế điều hòa nguồn thu

– Về thời gian lập dự toán, điều chỉnh dự toán, chỉnh lý quyết toán
Thời gian lập dự toán nên sớm hơn nữa, nên bắt đầu từ tháng 3. Thời gian điều chỉnh dự toán không nên quy định quá dài, đến tận 15/11 của năm thực hiện thì ý nghĩa dự toán không còn. Thời gian chỉnh lý quyết toán nên sớm hơn, chỉ để thời gian đủ xử lý các chứng từ thanh toán chưa về kịp. Tuyệt đối không xử lý những quyết định thu, chi sau ngày kết thúc niên độ NS.

Một số đề nghị thêm

Có chương riêng về kế toán, kiểm toán và thông tin về NS

Công tác hạch toán kế toán và thống kê về NSNN, quỹ NS và NQNN cần được quan tâm, quán triệt và chế tài trong suốt cả quy trình NS từ lập dự tóan NS, chấp hành NS, đến quyết toán NS, cần bao trùm trong toàn bộ công việc liên quan đến NS, từ thu, tập trung nguồn thu, phân bổ, cấp phát, thanh toán, sử dụng và quyết toán NS. Vì vậy, không nên để nội dung các quy định kế toán, kiểm toán và quyết toán NSNN trong một chương (Chương 5). Bởi vì, kế toán, kiểm toán và quyết toán NS là hai nội dung hoàn toàn khác nhau. Quyết toán NS là công việc, là nội dung của quy trình NS, còn kế toán và kiểm toán là công cụ quản lý tài chính – NS là phương thức để kiểm kê, kiểm soát tài chính Nhà nước, tài chính Quốc  gia. Luật đã có chương riêng về “Dự toán NSNN” (Chương IV), “Chấp hành NSNN” (Chương V). Do vậy, cần bố trí một chương riêng về
“Quyết toán NSNN” (Chương VI).    

Chính vì vậy, cần bố trí một chương riêng trong Luật NSNN, quy định về các hành vi liên quan đến hoạt động hạch toán kế toán, hạch toán thống kê và kiểm toán.

Nhiệm vụ tổ chức thông tin về NSNN, NQNN bao gồm từ khâu thu thập, phản ánh, xử lý, tổng hợp và cung cấp thông tin. Thông tin do kế toán thu thập, tổng hợp và cung cấp phải là hệ thông tin đầy đủ, toàn diện và tin cậy, phản ảnh trung thực, khách quan trên tổng thể cũng như các biến động, luân chuyển, tồn dư của NSNN, NQNN. Đây là yêu cầu mang tính pháp lý đối với NSNN và ngân quỹ quốc gia. Bởi đó là tiền của dân, của nước phải được quản lý chặt chẽ, sử dụng đúng mục đích, có hiệu quả từng đồng vì lợi ích của nhân dân, của đất nước. Vì vậy, điều đầu tiên của chương Kế toán và Kiểm toán phải quy định.

 “Các tổ chức, cá nhân có liên quan tới NSNN, NQNN phải  tổ chức hạch toán (bao gồm hạch tóan kế toán và hạch toán thống kê) theo quy định của Luật Kế toán, Luật Thống kê và các quy định về kế toán, thống kê của Nhà nước”.
Tham gia và liên quan đến họat động NSNN và NQNN. Đồng thời, có nhiệm vụ tổ chức công tác kế toán và thống kê, không chỉ có KBNN hay cơ quan tài chính mà bao gồm rất nhiều tổ chức, cá nhân từ khâu thu NS, thu ngân quỹ; phân bổ, cấp phát, thanh toán và sử dụng NS, NQNN. Do đó, nhiệm vụ kế toán, thống kê phải được quy định cho các đối tượng sau đây:

– Các tổ chức, cá nhân có nghĩa vụ nộp các khỏan thu NSNN, thu NQNN cho Nhà nước, như các tổ chức, cá nhân kinh doanh, có hoạt động kinh tế, có thu nhập chịu thuế, có sử dụng vốn, tài sản của Nhà nước phải bảo tồn và thực hiện nghĩa vụ tài chính với Nhà nước,…

– Các Tổ chức được luật pháp và Nhà nước giao nhiệm vụ tổ chức thu, tập trung các nguồn thu, như: Cơ quan Thuế, Hải quan, các cơ quan hành chính, sự nghiệp thuộc các lĩnh vực (quản lý Nhà nước về xuất, nhập cảnh, giao thông, tư pháp, thị trường,…) cho NSNN và NQNN. Các tổ chức này, phải tổ chức hạch toán kế toán, hạch toán thống kê đầy đủ, kịp thời số phải thu, số đã thu, số đã nộp, đã chuyển vào NQNN. Đây là những tổ chức chịu trách nhiệm pháp lý trước Nhà nước, trong quan hệ với các đối tượng có nghĩa vụ trực tiếp với NSNN. Đồng thời, cũng chịu trách nhiệm trước Nhà nước, trước dân về việc thu đúng, thu kịp thời các khoản thu cho NSNN, về các khoản nợ đọng, bị xâm tiêu, chiếm đoạt hoặc chiếm dụng. 

– Các cơ quan, tổ chức được pháp luật và Nhà nước giao nhiệm vụ và quyền quản lý, phân bổ NSNN, NQNN như: Cơ quan tài chính các cấp, cơ quan kế hoạch và đầu tư các cấp, cơ quan và đơn vị dự toán cấp 1, cấp 2,… Phải tổ chức hạch toán kế toán, hạch toán thống kê phản ảnh đầy đủ, kịp thời toàn bộ nguồn NQNN, nguồn NS và quỹ NS của Nhà nước được quản lý, được tiếp nhận, số phân bổ và tình hình quản lý, phân bổ tiếp của các tổ chức, cơ quan tiếp nhận.  

– Cơ quan trực tiếp quản lý NQNN, quản lý quỹ NSNN, thực hiện tập trung các nguồn thu, thanh toán các khoản chi hoặc cấp phát tạm ứng từ quỹ NSNN và NQNN. Các cơ quan này, có nhiệm vụ kiểm soát từng khoản thu, chi và phải tổ chức cả 3 loại hạch toán: Hạch toán kế toán, hạch toán thống kê và hạch toán nghiệp vụ. 

– Các tổ chức cá nhân sử dụng NS, NQNN, kể cả các tổ chức, cá nhân thụ hưởng theo luật định, các tổ chức vay mượn, tạm ứng và được Nhà nước giao quản lý, sử dụng theo nguyên tắc bảo toàn và bồi hoàn. 

Vì vậy, trong Luật NSNN cần có những quy định điều chỉnh và chế tài về kế toán liên quan đến nội dung các công việc quản lý, sử dụng NSNN ở các đối tượng và chủ thể khác nhau. Trong đó, có sự bắt buộc phải kế toán kép, có thể thực hiện kế toán kép hoặc kế toán đơn. Bên cạnh đó là các quy định về hạch toán thống kê, hạch toán nghiệp vụ về thu chi NS, thu chi ngân quỹ hàng ngày, định kỳ tại cơ quan tài chính, cơ quan thuế, hải quan và đặc biệt là, hạch toán tại cơ quan kho bạc. Tôi cho rằng, cần ít nhất 6 điều quy định về những nội dung này.

Trong Luật NSNN, cần có điều quy định về trách hạch toán kế toán những tài sản quốc gia, những tài sản hình thành từ NQNN hoặc có nguồn gốc từ NQNN. Trong đó, có tài sản đánh giá được, trị giá được, có những tài sản không định giá được (vô giá) và được hạch toán theo giá trị quy ước.

Quyết toán NSNN

(1) – Quyết toán NSNN là khâu cuối của chu trình quản lý NSNN. Nhằm đánh giá, tổng hợp tình hình và xác định kết quả thực hiện dự toán NSNN đã được Quốc hội, Hội đồng nhân dân quyết định.
Báo cáo Quyết toán NSNN, do Chính phủ lập và được Quốc hội xem xét, phê chuẩn là sự xác nhận về tính chính xác, đầy đủ của quyết toán thu, chi, mức bội chi NSNN, NSTW kèm theo đánh giá kết quả cũng như các vấn đề tồn tại (nếu có) trong quá trình tổ chức thực hiện dự toán, chấp hành NSNN,  NSTW.

Báo cáo Quyết toán NS địa phương, do UBND các cấp lập, trình hội đồng nhân dân.
Xung quanh vấn đề quyết toán NSNN, có rất nhiều nội dung công việc và hành vi cần được luật pháp chế tài, từ thẩm quyền, trách nhiệm trong lập, nộp, thẩm định và phê chuẩn quyết toán đến nội dung công việc, thời hạn, phương thức và trách nhiệm pháp lý về mức độ tin cậy của các thông tin trên báo cáo quyết toán. Đó không chỉ là trách nhiệm trước Nhà nước mà là trách nhiệm trước nhân dân, trước cử tri cả nước. Vì vậy, Quyết toán NS phải là báo cáo tài chính được công khai, minh bạch, được thảo luận công khai.

(2) Cần phải có những quy định về nguyên tắc và yêu cầu trong việc lập quyết toán NSNN
Cần phải quy định, nội dung quyết toán NS phải đúng với nội dung các chỉ tiêu trong dự toán NS đã được HĐND, Quốc hội quyết định. 

(3) Cần có quy định về trình tự lập, thẩm định, gửi và nộp báo cáo quyết toán NSNN của các cấp chính quyền
Thời gian lập và chỉnh lý quyết toán cần ngắn hơn và nên chấm dứt việc kéo dài thời hạn chi tiêu, thanh toán các khoản chi của năm trước trong năm nay.

PGS.TS. Đặng Văn Thanh *


Chủ tịch Hội Kế toán và Kiểm toán Việt Nam
(Theo: TapchiKetoanvaKiemtoan)


Tin tức liên quan

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *